Để có cơ sở cho việc nhân rộng mô hình trên địa bàn toàn tỉnh, Trung tâm đã tiến hành đánh giá kết quả thực hiện mô hình trong ba năm qua, cụ thể như sau :
1. Địa điểm và số lượng bò cái phối giống và đẻ:
|
TT
|
Địa điểm
(huyện)
|
Số lượng bò cái phối và đẻ (con)
|
|
Năm 2006
(6 tháng)
|
Năm 2007
|
Năm 2008
|
|
1
|
Hương Thuỷ
|
25
|
92
|
154
|
|
2
|
Hương Trà
|
32
|
60
|
82
|
|
3
|
Nam Đông
|
167
|
305
|
229
|
|
4
|
Phong Điền
|
26
|
154
|
187
|
|
5
|
Phú Lộc
|
12
|
4
|
7
|
|
6
|
Phú Vang
|
0
|
5
|
21
|
|
7
|
Quảng Điền
|
41
|
48
|
61
|
|
8
|
TP Huế
|
8
|
6
|
37
|
|
9
|
Alưới
|
0
|
0
|
14
|
|
Tổng
|
311
|
674
|
792
|
2. Đánh giá theo các chỉ tiêu kỹ thuật yêu cầu mô hình:
- Tỷ lệ phối giống mang thai đạt: 80% (yêu cầu 75%)
- Bê lai sơ sinh có khối lượng bình quân 18 kg (yêu cầu 18kg).
- Các định mức về vật tư kỹ thuật phối giống đảm bảo, riêng lượng nitơ hao hụt vượt 0,2 lít/con, nguyên nhân do bảo quản và vận chuyển.
3. Đánh giá hiệu quả kinh tế:
- Bê lai sơ sinh có khối lượng cao hơn bê địa phương từ 4-5kg và tăng trọng cao 4kg/tháng.
- Giá bán cao hơn bò vàng 2 triệu đồng/con (cùng 12 tháng tuổi)
4. Đánh giá hiệu quả xã hội:
- Giúp cho người chăn nuôi nhận thức và biết áp dụng những tiến bộ KHKT trong việc lai tạo, chăm sóc nuôi dưỡng nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi bò.
- Góp phần nâng cao tỷ lệ đàn bò lai trên toàn tỉnh và có tính bền vững.
5. Kết luận và đề nghị:
- Mô hình cải tạo giống bò theo hướng chuyên thịt bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo đã đem lại hiệu quả cao về mặt kinh tế cho người chăn nuôi.
- Mô hình đã đáp ứng yêu cầu của người chăn nuôi bò, nhu cầu nhân rộng ngày càng cao.
- Đề nghị các cấp địa phương, các đoàn thể cần phải có chính sách hỗ trợ, vận động người chăn nuôi bò thiến bò đực cóc, trồng cỏ và đào tạo dẫn tinh viên (như huyện Hương Thủy đang thực hiện) để công tác cải tạo đàn bò vàng đạt kết quả cao hơn nữa.