Từ những năm đầu phát triển nghề NTTS đặc biệt là nghề nuôi tôm Sú, nhiều hộ nông ngư dân đã trở nên giàu có, bộ mặt nông thôn đã dần thay đổi. Tuy nhiên, việc phát triển của người dân không theo quy hoạch, mang tính tự phát có nơi từ đê nội đồng hướng ra phá có trên 20 ao liền kề nhau, hệ thống cấp thoát nước ao nuôi còn nhiều lúng túng và qua nhiều năm nuôi môi trường có dấu hiệu ô nhiễm, dịch bệnh thường xuyên xảy ra. Mặt khác, chất lượng con giống, thị trường sản phẩm đầu ra không ổn định, giá vật tư tăng cao, nhưng giá bán tôm thịt thấp đã làm cho nghề nuôi tôm Sú trở nên lao đao.
Năm 2009, NTTS của xã vẫn xác định là ngành kinh tế trọng điểm và lâu dài, nên Đảng bộ và Chính quyền địa phương cùng các Ban ngành liên quan đã tập trung tháo gỡ những khó khăn vướng mắc, tìm hiểu đối tượng nuôi và hình thức nuôi phù hợp để tuyên truyền cho bà con nông ngư dân áp dụng vào sản xuất nhằm nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống. Với quyết tâm đó, tình hình NTTS năm 2009 đã có những bước tiến khả quan như: Diện tích thả nuôi trên toàn xã: 130,5ha, trong đó: nuôi chuyên tôm Sú: 13ha, nuôi xen ghép tôm Sú với cá Kình và Cua: 111,3ha, nuôi xen với cá Dìa: 5,2ha, nuôi xen với cá Rôphi với cá Trắm cỏ ở vùng ngọt hoá: 1ha. Kết quả sản lượng thu được: 57,8tấn (tôm, cá, cua) với tổng giá trị mang lại từ nuôi lợ: 5tỷ 220,750 triệu đồng, trong đó diện tích có lãi 79,6ha/112hộ, Diện tích hoà vốn 23,4ha/22hộ, diện tích thua lỗ 27,5ha/25 hộ do chủ yếu bị ảnh hưởng đợt tiểu mãn ngày 22/5/2009. Về diện tích nuôi ngọt 1,665ha và 4 lồng, sản lượng thu được 4,5tấn, giá trị thu nhập 70 triệu đồng, đa số các hộ nuôi đều có lãi.
Chỉ tiêu trong năm 2010: về diện tích nuôi lợ 120ha, trong đó diện tích nuôi chuyên tôm 5ha, diện tích nuôi xen gép cá Kình (hoặc cá Dìa), Cua 110ha, nuôi xen cá dìa 5ha; về diện tích nuôi nước ngọt vẫn duy trì 1,665ha; diện tích cá ôm lúa 0,5ha. Mật độ giống thả: đối với nuôi chuyên tôm Sú 15 con/m2, nuôi xen ghép tôm Sú, cá Kình 8 con/m2, nếu ghép thêm Cua và cá Dìa thì chỉ nên thả 500 con/ha đối với cá dìa và 200 con/ha đối với Cua. sản lượng dự kiến thu được 92,5tấn, với giá trị thu nhập là 5 tỷ 835 triệu đồng.
Nhằm phát huy những kết quả đạt được trong năm 2009 và để thực hiện thành công các chỉ tiêu năm 2010, Đảng bộ và Chính quyền địa phương cùng toàn thể bà con nông ngư dân đã đề ra các giải pháp thực hiện như sau:
- Về tổ chức sản xuất: Quan điểm chỉ đạo chung là không khuyến khích nuôi chuyên tôm mà chỉ nuôi xen ghép các đối tượng cá Dìa, cá Kình, cá Rô phi đơn tính, Cua, tôm Sú với mật độ: tôm Sú =<5con/m2, cá thả =<3con/m2 và thả 200 con cua/1ha. Đối với những ao đủ điều kiện thì có thể thả nuôi chuyên tôm Sú có sử dụng chế phẩm sinh học, với mật độ thả 15 con/m2.
- Về thời vụ: Căn cứ vào khung lịch thời vụ của sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Thừa Thiên Huế, căn cứ vào sự chỉ đạo của UBND huyện Quảng Điền. Khung lịch thời vụ của xã Quảng An quy định: tôm sú được thả từ ngày 25/03/2010 (10/2 AL) và thu hoạch xong trước ngày 22/8/2010 (13/7 AL).
- Về cải tạo ao và xử lý môi trường: Đối với những ao có thể hút cạn tiến hành hút cạn ao, diệt và bắt hết cá tạp, phát quang bụi rậm, lấp hết hang hốc, khắc phục các chỗ rò rỉ, vét sạch bùn đen ở đáy ao, gia cố bờ đê, tiến hành bón 50% lượng vôi cần bón, cày xới đáy ao và bón 50% lượng vôi còn lại, rào lưới cho ao nuôi, phơi ao từ 5-10 ngày trước khi lấy nước vào ao, sau đó tiến hành lấy nước vào ao và gây màu nước trước khi thả giống. Đối với những ao không thể hút cạn tiến hành phát quang bụi rậm, tu sửa bờ đê, khắc phục mọi chổ rò rỉ, có thể dùng máy hút bùn đen ở đáy ao đưa ra khỏi ao nuôi sau đó tiến hành diệt tạp, bón vôi, gây màu nước và rào lưới bảo vệ ao nuôi trước khi thả giống. Đối với những ao sử dụng chế phẩm EM thì phải sử dụng ngay từ khi cải tạo ao và ao không bị ngập trong suốt vụ nuôi lúc đó chế phẩm mới có tác dụng cao.
- Về con giống: Phải tuyển chọn con giống kỹ và kiểm dịch trước khi đưa vào thả nuôi, đối với giống tôm Sú không nên thả thẳng giống P15 mà phải thả giống đã qua ương cỡ 4-6 cm/con trở lên nhằm đảm bảo tỷ lệ sống cao và rút ngắn được thời gian nuôi để hạn chế ô nhiễm môi trường do nuôi kéo dài và giống phải được kiểm tra qua máy PCR là không có mầm bệnh đốm trắng và bệnh MBV(bệnh còi) mức độ cảm nhiễm là dưới 10%.
- Về thức ăn: Đối với nuôi chuyên tôm, khuyến khích người nuôi sử dụng thức ăn công nghiệp, không sử dụng thức ăn tươi, khuyết khô, thức ăn không đảm bảo chất lượng. Đối với nuôi xen ghép, ngoài thức ăn tổng hợp có thể bố sung thêm thức ăn chế biến gồm phụ phế phẩm nông nghiệp với bột cá hoặc cá tươi nhưng phải nấu chín có trộn thêm chất kết dính để đùn viên, phơi khô trước khi cho ăn.
- Về công tác quản lý và phòng trừ dịch bệnh: Thực hiện nghiêm túc khung lịch thời vụ, an toàn vùng nuôi và các quy định bảo vệ môi trường vùng nuôi. Xử lý nghiêm khắc đối với những hộ làm trái quy định như: thả giống trước lịch thời vụ, thả nuôi tôm thẻ chân trắng, thả giống tôm sú chưa được kiểm dịch, những hộ có ao tôm bị dịch bệnh mà không khai báo ngược lại có hành vi gây lây lan ra nguồn nước.
- Về tổ chức thực hiện: Tăng cường tổ chức tập huấn nuôi chuyên tôm có sử dụng chế phẩm sinh học, nuôi xen ghép. Phối hợp chặt chẽ với các đoàn thể nhằm vận động, thuyết phục ngư dân nuôi theo hướng bền vững chấp nhận lãi ít nhưng ăn chắc góp phần tái tạo môi trường vùng nuôi. Tiếp tục kiện toàn các tổ tự quản trong NTTTS, cùng nhau ký kết các hợp đồng mua giống, thức ăn, chế phẩm…thường xuyên tham gia trực báo cùng lãnh đạo xã, phòng Nông nghiệp và PTNT huyện cùng cán bộ kỹ thuật của các Ban ngành liên quan để đảm bảo việc nắm và xử lý kịp thời những tình huấn xảy ra
Từ bài học chuyển đổi ở Quảng An đã mở ra hướng đi đầy triển vọng cho các địa phương có cùng điều kiện sản xuất. Đây là hướng mở giúp nghề nuôi thủy sản phát triển ổn định, bền vững../.